Ngày đăng bài: 14/03/2019 16:14
Lượt xem: 564
Hướng giải quyết vấn đề sao chép tài liệu trong thư viện để thực thi quyền tác giả và quyền liên quan ở Việt Nam

Cho đến nay, liên quan đến việc sao chép tài liệu ở Việt Nam có cơ sở pháp lý là quy định trong khoản 6 điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11:

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh hoạ trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;

k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.

Đối với hoạt động thư viện, trong bối cảnh xây dựng thư viện điện tử và phát triển nguồn tài nguyên điện tử khá sôi động đang diễn ra ở hầu hết các thư viện Việt Nam, một số công việc thư viện đang tiến hành hiện nay liên quan chặt chẽ đến vấn đề bản quyền là:

1. Số hoá nguồn tài liệu giấy.

2. Trích dẫn tin từ các trang web khác trong Bản tin điện tử của thư viện.

3. Tải xuống từ Internet các tài liệu cần thiết cho thư viện mình (không xin phép).

4. Liên kết bổ sung, chia sẻ nguồn thông tin điện tử…

Nội dung bài viết tập trung vào vấn đề số hoá nguồn tài liệu giấy và tải xuống từ Internet các tài liệu cần thiết cho thư viện.

Theo khoản 5, điều 1 của Nghị định số 85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, công bố ngày 20/09/2011 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/11/2011) “Quyền sao chép tác phẩm quy định tại điểm c khoản 1 điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”. Nhìn trên bình diện cả nước, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng xâm phạm quyền tác giả tràn lan mà trong đó hành vi xâm phạm phổ biến nhất là sao chép tác phẩm bằng công nghệ số (sao chép số) và sử dụng trái phép tác phẩm trên mạng. Tham khảo số liệu thống kê của liên minh quốc tế về sở hữu trí tuệ, mức độ vi phạm tác phẩm ngôn ngữ (sách, báo) và băng đĩa ở nước ta chiếm tới 85-90% và Việt Nam được xếp vào một trong những nước có mức vi phạm cao nhất thế giới [7]. Vậy, câu hỏi đặt ra là các thư viện Việt Nam có hành vi xâm phạm khi sao chép tác phẩm bằng công nghệ số (sao chép số) và sử dụng trái phép tác phẩm trên môi trường Internet để phục vụ thông tin điện tử cho bạn đọc hay không?

Quyền sao chép tác phẩm

Pháp luật Việt Nam định nghĩa quyền sao chép tác phẩm là “quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” [2]. Thuật ngữ sao chép được giải thích là “việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” [3].

Bản sao tác phẩm được giải thích tại Điều 4, Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan là “bản sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp một phần hoặc toàn bộ tác phẩm”.

Với các quy định trên thì việc sao chép tài liệu trong thư viện có thể được thực hiện dưới rất nhiều hình thức, bao gồm việc sao chép nội dung hay hình ảnh bằng máy quét hay máy photocopy hay bất kỳ phương tiện nào khác, việc ghi âm, ghi hình các bài giảng tại các thư viện trường phổ thông, thư viện đại học...

Tham khảo Luật Bản quyền năm 1976 của Hoa  Kỳ chúng ta có thể nhận thấy luật này quy định hài hoà lợi ích của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và những lợi ích công cộng của xã hội [5]. Theo luật này, các quyền của tác giả có thể bị hạn chế bởi việc sử dụng của bên thứ ba. Việc sao chép tác phẩm bởi các thư viện, cơ quan lưu trữ vì mục đích nghiên cứu, giảng dạy không nhằm kinh doanh, theo quy định của Luật Bản quyền năm 1976 là không vi phạm quyền tác giả. Tại Điều 107 quy định về hạn chế đối với các độc quyền “sử dụng hợp lý” như sau: không trái với các quy định tại Điều 106 và 106a, được phép sử dụng một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép, dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào được quy định trong Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc nghiên cứu, giảng dạy (bao hàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), là không vi phạm quyền tác giả. Để xác định xem việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thể có phải là được phép hay không, cần xem xét đến các yếu tố như: mục đích, số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm và quan trọng nhất là vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường, hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ (Điều 107 này được sửa đổi bởi Luật về các quyền đối với tác phẩm nghệ thuật tạo hình năm 1990 và Luật quyền tác giả ngày 14/10/1992, Pub. L. 102-492. 106 Stat. 3154). Ngoài ra, tại Điều 108 về hạn chế các quyền độc quyền “tái bản nhằm mục đích lưu trữ và dùng trong thư viện” cũng quy định: không trái với quy định của Điều 106, sẽ không bị coi là hành vi vi phạm quyền tác giả đối với việc tái bản nhiều hơn một bản sao hoặc bản ghi của tác phẩm cho mục đích lưu trữ và dùng trong thư viện và việc” 1) tái bản hoặc phân phối đó được thực hiện không nhằm mục đích thu lợi nhuận, dù trực tiếp hay gián tiếp; 2) sưu tập của thư viện và lưu trữ để: a) phục vụ công chúng,...” (Điều 108 được sửa đổi bởi Luật Quyền tác giả sửa đổi năm 1992. Pub. L. 102-307. 106 Stat. 264, 272 , trong đó có huỷ toàn bộ phụ đoạn (i) [4].

Tham khảo Luật Quyền tác giả và quyền liên quan năm 1993 của Liên bang Nga (Law on Copyright and Neighboring Rights), quyền sử dụng “tự do” tác phẩm (sử dụng tác phẩm không cần có sự đồng ý của tác giả và không cần trả thù lao cho tác giả mà không bị xem là vi phạm) được quy định tại các điều từ Điều 18 đến Điều 26, trong đó sao chép tác phẩm được quy định tại Điều 20 của Luật này [6]. Việc sao chép tác phẩm không cần có sự đồng ý và trả thù lao cho tác giả, nhưng bắt buộc phải trích dẫn tên tác giả, nguồn gốc sao chép và sao chép trong giới hạn một bản duy nhất, không nhằm mục đích thương mại, được quyền thực hiện với các điều kiện sau:

1. Tác phẩm được công bố một cách hợp pháp bởi thư viện, bộ phận lưu trữ nhằm mục đích khôi phục, thay thế những bản bị thất lạc, hư hỏng;

2. Các bài viết riêng biệt và một phần không lớn của tác phẩm được công bố hợp pháp trong các tuyển tập, trên báo chí, những đoạn ngắn từ những tác phẩm viết (có hoặc không có sự minh hoạ) được công bố một cách hợp pháp bởi thư viện, cơ quan lưu trữ theo yêu cầu của cá nhân và phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu;

3. Các bài viết riêng biệt và một phần không lớn của tác phẩm được công bố hợp pháp trong các tuyển tập, trên báo chí, những đoạn ngắn từ những tác phẩm viết (có hoặc không có sự minh hoạ) được công bố một cách hợp pháp bởi các cơ sở giáo dục nhằm mục đích phục vụ cho việc học tập tại giảng đường.

Như vậy, việc sao chép theo quy định của Luật Quyền tác giả và quyền liên quan của Liên bang Nga chỉ được thực hiện đối với những tác phẩm đã được công bố hợp pháp và việc sao chép bắt buộc vẫn phải có sự trích dẫn tên tác giả, nguồn gốc sao chép, có nghĩa là không có sự vi phạm quyền nhân thân của tác giả. Ngoại lệ của nguyên tắc này có thể là trường hợp sao chép một số trang thay cho những trang bị mất hoặc hư hỏng. Bên cạnh đó, chỉ có thể sao chép một bản duy nhất và việc sao chép không gắn liền với mục đích thương mại, quyền sao chép được trao cho thư viện, cơ sở lưu trữ nhằm mục đích khôi phục, bổ sung những bản bị hư hỏng, thất lạc; sao chép các bài viết riêng biệt và một phần không lớn của tác phẩm được công bố hợp pháp trong các tuyển tập, trên báo chí, những đoạn ngắn từ những tác phẩm viết (có hoặc không có sự minh hoạ) được công bố một cách hợp pháp và chỉ theo yêu cầu của cá nhân nhằm phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu. Ngoài những trường hợp nói trên, mọi việc sao chép các tác phẩm được công bố hợp pháp bởi thư viện, cơ sở lưu trữ, cơ sở đào tạo đều phải có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu.

Tham khảo Luật Bản quyền năm 1994 của New Zealand về vấn đề sao chép, chúng ta thấy trong luật này giới hạn về quyền tác giả với số phần trăm tác phẩm hợp lý dành cho mục đích học tập, nghiên cứu của các cá nhân; giới hạn việc sao chép của các tổ chức giáo dục phi lợi nhuận nhằm mục đích giáo dục và giới hạn số lượng tư liệu sao chép từ những tác phẩm có bản quyền tại các thư viện. Để tăng số lượng các tư liệu sao chép, các thư viện phải đăng ký với Công ty quản lý bản quyền Copyright Licensing Ltd. (CLL), hoặc phải tìm kiếm giấy phép từ những chủ sở hữu quyền tác giả. Trong ấn bản The Copyright Act 1994: Guidelines for librarians (của Hiệp hội Thông tin và Thư viện LIANZA New Zealand 2005) có nêu ra những vấn đề có liên quan đến bản quyền trong hoạt động thư viện. Ví dụ, bản quyền của một tác phẩm sẽ hết hạn trong 25 - 50 năm; Người làm thư viện có thể làm một bản sao của một tác phẩm hoặc một bài báo định kỳ cho người sử dụng với mức độ sao chép hợp lý; Phần trăm sao chép hợp lý được dựa trên sao chép sử dụng cho mục đích nghiên cứu hoặc tự học, sao chép sử dụng cho mục đích giáo dục; Sao chép cho mục đích giáo dục có thể được thực hiện dựa theo thoả thuận chuyển nhượng bản quyền với CLL, hoặc phải được sự cho phép của chủ sở hữu bản quyền; Sự sao chép cơ sở dữ liệu điện tử chỉ có thể được thực hiện dưới dạng hợp đồng giữa thư viện với nhà cung cấp cơ sở dữ liệu; Muốn sao chép các buổi phát thanh, truyền hình và chương trình truyền hình cáp… phải có giấy phép bản quyền từ Screenrights [1]...

Nhìn chung, pháp luật của rất nhiều nước cho thư viện quyền sao chép để bảo quản, bổ sung, nghiên cứu và cho bạn đọc sao chép một phần của tác phẩm, phần đó là bao nhiêu thì tuỳ thuộc vào từng nước.

Các thư viện Việt Nam muốn số hoá nguồn tài liệu giấy có bản quyền thuộc quyền quản lý của mình phải liên hệ với VIETRRO

Hầu như giải pháp tiến hành số hoá nguồn tài liệu giấy thuộc quyền quản lý của thư viện mình để có bản điện tử đưa ra phục vụ bạn đọc đều được các thư viện lựa chọn, cho dù việc số hoá này mất nhiều thời gian, tốn kém tiền của, công sức. Trong những năm qua, nhiều dự án, đề án số hoá của các thư viện đã, đang được thẩm định và thực hiện. Mỗi thư viện đều căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình, đưa ra những tiêu chí phù hợp để lựa chọn các tài liệu cần số hoá. Ví dụ: tài liệu quý, hiếm, tài liệu một bản, tài liệu có tần số sử dụng cao, tài liệu có nguy cơ hư hỏng, tài liệu có giá thành cao, tài liệu không ở đâu có, tình trạng bản quyền của tài liệu… Các thư viện có điều kiện về kinh phí thì sử dụng thiết bị scan chuyên dụng để số hoá như thiết bị số hoá tài liệu của công nghệ KIRTAS APT 1200 có thể số hoá nguồn tài liệu với số lượng lớn và đảm bảo chất lượng tốt, sắc nét, hình ảnh đẹp, giống 100% bản gốc, cho phép tự động tạo các siêu dữ liệu mô tả và siêu dữ liệu cấu trúc của tài liệu ở định dạng XML. Đối với các thư viện không có máy scan chuyên dụng, thì hoặc là lật từng trang của cuốn sách rồi quét (bằng cách này tốc độ rất chậm) hoặc photocopy cả cuốn sách in, sau đó dùng các trang photocopy rời để cho máy tự quét hoặc tháo gáy cuốn sách rồi scan, sau đó phục hồi đóng bìa sách in lại như cũ. ở những thư viện có kinh phí mua sách quá hạn hẹp thì chỉ chọn mua bản điện tử (nếu có cả bản in và bản điện tử) hoặc nếu sách không có bản điện tử thì thường chọn cách tăng số lượng tên sách, giảm số bản xuống mức thấp nhất, thậm chí là chỉ mua 01 bản in, sau đó số hoá để có bản điện tử lưu trữ và đưa ra phục vụ trong mạng nội bộ với quy định: bạn đọc chỉ được đọc, không được phép tải về, không thu phí truy cập.

Việc số hoá nguồn tài liệu giấy thuộc quyền quản lý của thư viện trên thực tế đã diễn ra theo các cách: thư viện tự số hoá, hoặc hợp đồng thuê bên ngoài số hoá hoặc vừa tự số hoá vừa thuê bên ngoài. Dù thực hiện bằng cách nào cũng liên quan đến tình trạng bản quyền của tài liệu, nếu thư viện thuê bên ngoài số hoá thì mức độ tiềm ẩn các rủi ro về bản quyền của tài liệu cao hơn. Ngoài ra, do thiếu sự phối hợp, hợp tác giữa các thư viện trong công tác số hoá, nên cùng một tên tài liệu nhiều thư viện sẽ cùng thực hiện việc số hoá.

Nói chung, để có tài liệu điện tử thuộc quyền quản lý của mình đưa ra phục vụ bạn đọc/ người dùng tin, khi số hoá tài liệu, tình trạng bản quyền của tài liệu đã được các thư viện quan tâm. Theo Hiệp hội Quyền sao chép Việt Nam - VIETRRO (tổ chức đại diện cho các công dân, tổ chức của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực văn học - nghệ thuật, khoa học và giáo dục, bao gồm các chủ sở hữu quyền tác giả sáng tạo phi hư cấu, hư cấu và chủ sở hữu quyền tác phẩm), các loại hình bảo hộ được VIETRRO xác định bao gồm: in, sao chụp, quét (scan), sao chụp kỹ thuật số (trên CD hay VCD), lưu trữ điện tử trong cơ sở dữ liệu. Như vậy, hoạt động của VIETRRO chắc chắn sẽ liên quan đến việc số hoá tài liệu trong thư viện, đến cấp phép sử dụng số, cấp phép sao chụp cho thư viện và người sử dụng thư viện. Những tài liệu thư viện được quyền số hoá không cần phải được VIETRRO cấp phép là những tài liệu thuộc phạm vi sử dụng công cộng (public domain) không thuộc sự bảo hộ của Luật Bản quyền (ví dụ: hết thời hạn quy định, thuộc sở hữu của nhà nước).

Hiện tại, không gian phục vụ của thư viện điện tử không thể quan niệm như trụ sở vật lý của thư viện truyền thống mà thư viện cấp tài khoản truy cập vào các tài liệu đã được số hoá thông qua mạng nội bộ và phân quyền sử dụng tài liệu khá rõ ràng, có tài liệu được phép tải xuống, có tài liệu chỉ đọc. Hiện nay, nhiều thư viện cho rằng các mục đích chính khi số hoá tài liệu của thư viện là: lưu trữ bản điện tử (khi mất bản giấy nếu cần thiết có thể in ra bản giấy thay thế), bảo quản tài liệu giấy (quý, hiếm, độc bản…), phổ biến, tuyên truyền tinh hoa di sản văn hoá, các thành tựu khoa học và công nghệ rộng rãi ra công chúng. Tóm lại, thư viện phục vụ giáo dục, nghiên cứu, học tập mang tính chất phi lợi nhuận và mục đích của người sử dụng thư viện là nghiên cứu, học tập thì thư viện có thể số hoá mà không cần liên hệ với VIETRRO. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, với những tài liệu đang được bảo hộ, vẫn đang được phát hành trên thị trường thì thực ra đây là hành vi vi phạm bản quyền và cho đến thời điểm này chưa có thư viện nào bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật (có lẽ do đặc thù của Việt Nam, hành vi vi phạm này quá phổ biến nên không thể xử lý vì thư viện không có mục đích kinh doanh mà chỉ phục vụ miễn phí cho bạn đọc/ người dùng tin).

Một trong những kênh bổ sung nguồn tài nguyên điện tử quan trọng của thư viện là tải xuống từ Internet rồi tiến hành chọn lọc những tài liệu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện mình, rồi xử lý thông tin và đưa ra phục vụ. Nhìn chung, cứ tải được miễn phí là tải xuống, các thư viện chưa quan tâm tới tài liệu đó có được tác giả cho phép hay không và cũng khó phân biệt được tài liệu nào được phép và chưa được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm trên môi trường Internet một khi có thể tải xuống miễn phí. Đối với những tài liệu điện tử có được từ nguồn này, các thư viện có cùng chức năng, nhiệm vụ, cùng diện phục vụ thường sử dụng để chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau để tiết kiệm thời gian, công sức. Ngoài ra, việc sao chép từ bản sao trên Internet bằng máy tính và điện thoại thông minh rất dễ dàng, nhanh chóng, thuận lợi hơn rất nhiều so với sao chụp truyền thống mà chất lượng vẫn đảm bảo như bản gốc nên các thư viện sao chép  bản sao số được rất nhiều tài liệu, kể cả tài liệu nghe nhìn từ nguồn này để phục vụ.

Về mặt pháp lý, thư viện được quyền sao chép tác phẩm để lưu trữ một bản sao trong thư viện với mục đích nghiên cứu và chưa có quy định nào của pháp luật kiểm soát về số lượng tác phẩm thư viện được phép sao chép trên môi trường Internet. Ngoài ra, thư viện có thể không trực tiếp lưu trữ tác phẩm mà chỉ cung cấp các đường link trên trang web để người sử dụng có thể truy cập đến các kho dữ liệu qua các trang web miễn phí.

Trong thời đại điện tử, ngoài chức năng văn hoá và giáo dục, chức năng thông tin của thư viện được đặc biệt nhấn mạnh và đề cao, bên cạnh đó chức năng giải trí cũng được thực hiện ngày càng tốt hơn, việc thực hiện các dịch vụ thu phí cũng ngày càng mở rộng, sức thu hút của các thư viện điện tử ngày càng cao một phần là nhờ có nguồn tài nguyên thông tin điện tử phong phú, đa dạng. Những giải pháp pháp lý và công nghệ là hết sức quan trọng và phải song hành để giải quyết vấn đề bản quyền trong việc phát triển nguồn tài nguyên điện tử và phục vụ thông tin điện tử. Hiện nay, tỷ lệ bạn đọc/ người dùng tin khi đến thư viện sử dụng điện thoại thông minh ngày càng nhiều, vì vậy không thể loại trừ các trường hợp bạn đọc/ người dùng tin dùng điện thoại chụp nội dung tài liệu, họ chỉ được phép đọc chứ không thể tải về và thư viện phải niêm yết cảnh báo về luật bản quyền trên sách in, trên máy tính và các thiết bị khác của thư viện.

Một số đề xuất

1. Đối với cơ quan lập pháp

Trong một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến quyền tác giả cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền sao chép của thư viện để phục vụ mục đích lưu trữ, nghiên cứu và học tập. Quy định rõ ràng trong mục đích học tập thì người sử dụng thư viện được sao chép với tỷ lệ phần trăm là bao nhiêu so với toàn bộ tác phẩm cho từng loại hình sách, báo, tạp chí... tương tự như luật quyền tác giả và quyền liên quan của nhiều nước.

Trong Dự thảo Luật Thư viện sẽ trình Quốc hội thông qua cũng cần có điều khoản liên quan đến quyền sao chép của thư viện. Việc bảo hộ rõ ràng cho quyền sao chép của thư viện là rất cần thiết để thư viện truyền bá rộng rãi các tài sản trí tuệ không chỉ dưới dạng in ấn mà cả điện tử.

2. Đối với cơ quan hành pháp

Quản lý, kiểm soát chặt chẽ các cơ sở photocopy, scan tư nhân đang rất phổ biến trong xã hội hiện nay. Nếu nhà nước ra quy định các cơ sở sao chép chỉ được đặt trong các thư viện, trường học, các cơ quan nhà nước thì sẽ có sự giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về bản quyền hơn. Cần có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả và xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm. Do VIETRRO chỉ là một tổ chức về bản quyền, không có chức năng xử phạt hành chính nên khi có các trường hợp vi phạm trách nhiệm xử phạt hành chính thuộc về các cơ quan chức năng liên quan.

3. Đối với thư viện

Cán bộ quản lý thư viện cần phải nhận thức đúng đắn cũng như quan tâm một cách thoả đáng đến việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả tại thư viện của mình. Có kế hoạch cụ thể, thiết thực tăng cường mạnh mẽ công tác tuyên truyền phổ biến về luật sở hữu trí tuệ, quyền tác giả trong xã hội bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau. Đặc biệt lưu ý đối tượng học sinh, sinh viên để họ hiểu rõ hơn về các quy định của pháp luật liên quan đến việc sao chép tài liệu. Thư viện cần thực hiện các biện pháp chủ động cảnh báo về bản quyền trên sách in, trên các thiết bị in ấn, sao chụp và giáo dục ý thức tự giác chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ cho bạn đọc/ người dùng tin khi sử dụng nguồn tài nguyên được lưu giữ và phục vụ trong thư viện tại chỗ và qua mạng.

Để thực hiện tốt quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện, các thư viện Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ với các công ty phần mềm xúc tiến các giải pháp về công nghệ để kiểm soát được các hành vi vi phạm bản quyền của bạn đọc/ người dùng tin và xử lý nghiêm khi bạn đọc/ người dùng tin vi phạm.

Kết luận

Trong lúc chờ đợi các cơ quan chức năng về pháp luật của Việt Nam trao cho thư viện đặc quyền sao chép không chỉ với mục đích lưu trữ, phục vụ nghiên cứu, mà cả mục đích học tập, kinh nghiệm của thư viện nước ngoài cho thấy, khi tiến hành số hoá tài liệu cần xác định được rằng thư viện có vi phạm quyền tác giả hay không, căn cứ vào trạng thái bản quyền của tác phẩm và phương thức sử dụng tác phẩm. Đối với các tài liệu được tặng cho thư viện và người tặng có quyền tác giả, thì thư viện có thể tiến hành số hoá, tuy nhiên, thư viện cần phải yêu cầu người tặng cung cấp cho mình quyền được số hoá tài liệu (có thể bằng một bản chuyển nhượng có ghi "quyền sử dụng tác phẩm với bất kỳ mục đích chung của thư viện, dưới bất kỳ phương tiện nào". Ngoài ra, khi có nhu cầu số hoá các tài liệu được bảo hộ bản quyền, các thư viện cần chủ động thiết lập mối quan hệ với VIETRRO để giải quyết vấn đề liên hệ với các chủ sở hữu quyền tác giả và quyền tác phẩm. Bên cạnh đó, khi cung cấp cho người sử dụng dịch vụ đọc bản số hoá trong hệ thống mạng nội bộ nhất thiết phải có giải pháp công nghệ chỉ cho phép đọc các tác phẩm có bản quyền trên các máy trạm của thư viện, tuyệt đối không được tải xuống và in ấn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Loan Thuỳ, Bùi Thu Hằng. Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ và quyền tác giả trong hoạt động thông tin - thư viện// Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2011. - Số 1. - Tr. 16-25.

2. Khoản 2 Điều 23 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

3. Khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ.

4. Về quyền photocopy trong môi trường giáo dục. http://www.hcmulaw. edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=108:ctc20072&id=281:vqptcptptmtgd&Itemid=110.

5. Copyright law of the United States. www.copyright.gov/title17/circ92.pdf.

6. Russian Federation. Law on Copyright and Neighboring Rights http://en.wikisource. org/wiki/Russian_Federation.

7. http://petrotimes.vn/news/vn/dam-luan-doithoai/pct-hiep-hoi-quyen-sao-chep-viet-nam-phaimanh-tay-dep-nan-vi-pham-tac-quyen.html

______________

PGS.TSKH. Bùi Loan Thuỳ

Trường ĐHKHXH&NV Tp. HCM

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 6. - Tr. 8-13,7.